You are here
Home > Doc sach

Trích “Làm lành với hôn nhân”

Một buổi chiều muộn mùa hè năm 2006, tôi thấy mình đang ở trong một ngôi làng nhỏ tại miền Bắc Việt Nam, ngồi bên bếp lửa ám đầy bồ hóng với một số phụ nữ địa phương nói thứ ngôn ngữ mà tôi không nói được, cố gắng hỏi họ về hôn nhân gia đình.

Suốt vài tháng qua, tôi đã lang thang khắp các nẻo đường Đông Nam Á với người đàn ông chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành chồng tôi. Tôi cho rằng từ thích hợp cho một người như vậy là “hôn phu”, nhưng cả hai chúng tôi đều không thấy thoải mái với từ đó nên đã không dùng. Trên thực tế, cả hai chúng tôi đều không thấy thoải mái chút nào với ý tưởng về cuộc sống gia đình. Hôn nhân không phải là điều mà chúng tôi đã dự định với nhau, cũng không phải là điều mà có ai trong chúng tôi mong muốn. Nhưng Thượng Đế đã can thiệp vào kế hoạch của chúng tôi, đó là lý do vì sao chúng tôi hiện lang thang vô định qua Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia và Indonesia, không ngừng cố gắng hết sức – có lúc tưởng chừng như tuyệt vọng – tìm cách để nhanh chóng quay về Mỹ kết hôn.

Người đàn ông nói đến ở đây là người yêu của tôi, người tình của tôi, cho đến lúc bấy giờ đã được hơn hai năm, và trong cuốn sách này tôi sẽ gọi anh là Felipe. Felipe là một người đàn ông Brazil dễ mến, tử tế, lớn hơn tôi mười bảy tuổi, tôi gặp anh trong một chuyến đi khác (đã được lên kế hoạch rõ ràng) mà tôi thực hiện vòng quanh thế giới vài năm trước, trong nỗ lực hàn gắn trái tim tan vỡ. Gần cuối chuyến du hành đó, tôi đã gặp gỡ Felipe, anh đã sống lặng lẽ cô đơn ở Bali nhiều năm, cũng đang chữa lành vết thương lòng. Rồi chúng tôi bị hấp dẫn bởi nhau, tiếp theo là quá trình tìm hiểu dần dần và cuối cùng tình yêu đến trước sự ngạc nhiên vô bờ bến của cả hai.

Chúng tôi khước từ hôn nhân hoàn toàn không phải vì không yêu nhau. Ngược lại, Felipe và tôi yêu nhau tha thiết. Chúng tôi rất đỗi hạnh phúc hẹn ước sẽ chung thủy bên nhau mãi mãi. Chúng tôi còn thề sẽ toàn tâm toàn ý với nhau đến đầu bạc răng long, mặc dù chuyện thề thốt này được thực hiện rất riêng tư. Vấn đề ở đây là cả hai đều đã phải gượng dậy sau vụ ly dị tệ hại, và chúng tôi bị tổn thương sâu sắc bởi những trải nghiệm trong quá khứ đến nỗi riêng cái ý tưởng về hôn nhân với sự công nhận của luật pháp – với bất kỳ ai, kể cả với một người vô cùng đáng yêu như chính đối tượng của chúng tôi đây – cũng đủ làm cho chúng tôi thấy rùng mình.

Dĩ nhiên, theo lẽ thường, phần lớn các vụ ly hôn đều tệ hại (Rebecca West nhận xét rằng “ly dị là một việc hầu như bao giờ cũng vui vẻ và có ích ngang bằng làm vỡ một món đồ sứ rất có giá trị”), và những cuộc ly hôn của chúng tôi không phải là ngoại lệ. Theo thước đo Mức độ tồi tệ của ly dị được đánh số từ một đến mười (một tương đương với một vụ chia tay êm ái không thù oán, và mười tương đương với… chà, một vụ ly hôn thực sự…), tôi tự đánh giá vụ ly dị của mình ở mức bảy phẩy năm. Không có vụ tự tử hay sát hại nào, nhưng ngoài như thế, sự đoạn tuyệt giữa chúng tôi là quá trình tồi tệ nhất mà hai con người biết cư xử có thể tạo ra. Và nó đã kéo dài hơn hai năm trời.

Về Felipe, cuộc hôn nhân đầu tiên của anh ấy (với một phụ nữ người Úc thông minh, có nghề nghiệp ổn định) đã chấm dứt được gần mười năm trước ngày chúng tôi gặp nhau ở Bali. Vào thời điểm anh ly dị, mọi việc diễn ra êm thấm, nhưng việc mất người vợ (cùng với quyền tiếp cận ngôi nhà cũ và các con cũng như khoảng thời gian gần hai mươi năm sống cùng cô ấy) đã giáng một đòn mạnh xuống người đàn ông dễ mến đó, để lại nỗi buồn dai dẳng khôn nguôi, hằn rõ hơn cả là sự tiếc nuối, cảm giác bị cô lập và nỗi lo lắng về kinh tế.

Những trải nghiệm đó khiến chúng tôi cảm thấy nặng nề, phiền muộn, và kiên quyết nghi ngờ cái niềm vui mà cuộc sống hôn nhân thiêng liêng đem lại. Giống như bất cứ ai từng đi qua thời kỳ tăm tối của ly hôn, Felipe và tôi đã trực tiếp nếm trải mùi vị của một sự thật đau lòng: đó là lẩn khuất đâu đó bên dưới bề mặt êm ả ban đầu, mọi mối quan hệ mật thiết đều chứa đựng những cơn sóng ngầm có khả năng tạo nên một thảm họa mang tính hủy diệt. Chúng tôi cũng học được rằng hôn nhân là một nơi đi vào dễ hơn trăm ngàn lần thoát ra. Vì không bị ràng buộc bởi pháp luật nên những cặp đôi yêu nhau nhưng chưa kết hôn có thể chấm dứt mối quan hệ tồi tệ bất cứ lúc nào. Nhưng các bạn – những người đã kết hôn hợp pháp đang muốn thoát khỏi một tình yêu bất hạnh – có thể nhanh chóng phát hiện ra rằng một phần không nhỏ trong hôn nhân của bạn phụ thuộc vào nhà nước, và rằng có khi bạn phải đợi rất lâu mới được nhà nước cho phép bỏ đối phương. Vì vậy, bạn có thể thấy mình bị mắc kẹt nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm trời trong một mối quan hệ ràng buộc bởi pháp lý, không còn tình yêu, cảm giác chẳng khác gì một tòa nhà đang bốc cháy. Một tòa nhà đang bốc cháy trong đó bạn, bạn thân mến của tôi, bị còng tay vào một nơi nào đó dưới tầng hầm, không thể giật còng để thoát thân, trong khi khói bốc lên cuồn cuộn và xà nhà đang sập xuống…

Tôi xin lỗi – tất cả những điều này nghe quá phũ phàng chăng?

Tôi chia sẻ những suy nghĩ không lấy gì làm dễ chịu này chỉ để giải thích lý do tại sao Felipe và tôi đã thiết lập một giao ước khác thường ngay từ ngày đầu yêu nhau. Chúng tôi đã thề nguyện bằng trọn trái tim mình là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng sẽ không bao giờ, không đời nào cưới nhau. Chúng tôi thậm chí còn hứa sẽ không bao giờ gộp chung tài chính hay tài sản vật chất của mỗi người nhằm tránh cơn ác mộng kinh hoàng về một trận chiến phân chia các khoản thế chấp, chứng thư, bất động sản, tài khoản ngân hàng, đồ dùng nhà bếp và những quyển sách yêu thích. Khi những lời hứa đó được đưa ra đầy đủ, chúng tôi tiến bước vào một mối quan hệ được phân định rạch ròi cẩn thận với cảm giác thoải mái thật sự. Giống như lời thề đính hôn có thể mang đến cho rất nhiều cặp đôi khác cảm giác được bảo vệ, lời thề không bao giờ kết hôn này đã bao bọc chúng tôi trong cảm giác an toàn tuyệt đối về tình cảm mà chúng tôi cần để thử yêu lần nữa. Và sự tự do mà cam kết này – chúng tôi cố tình không đặt thêm từ “chính thức” vào sau từ “cam kết” – đem lại thật là kỳ diệu. Cứ như thể chúng tôi đã tìm ra Hành lang Tây Bắc dẫn đến Sự gắn bó Hoàn hảo – một cái gì đó, như Garcia Marquez đã viết, “giống như tình yêu, nhưng lại không có những vấn đề của tình yêu.”

Thế nên, đây là những gì chúng tôi thực hiện với nhau cho đến mùa xuân năm 2006: ai lo việc người nấy, cùng nhau xây dựng một cuộc sống được phân chia cẩn thận trong sự toại nguyện, tự do. Cứ như vậy thì có lẽ chúng tôi sẽ sống hạnh phúc mãi mãi về sau, nếu không có một sự can dự cực kỳ phiền phức xuất hiện.

Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ nhảy vào.

Rắc rối ở chỗ Felipe và tôi – dù chúng tôi có chung nhiều điểm tương đồng và nhiều niềm vui – không có chung một quốc tịch. Anh là người gốc Brazil mang quốc tịch Úc, và khi chúng tôi gặp nhau, anh đang sống chủ yếu ở Indonesia. Tôi là một phụ nữ Hoa Kỳ, ngoài lúc đi du lịch, tôi sống chủ yếu ở Bờ Đông Hoa Kỳ. Ban đầu, chúng tôi không hề lường được những rắc rối trong chuyện tình không biên giới của mình, mặc dù nhìn lại thì lẽ ra chúng tôi đã phải đoán ra các hệ lụy phức tạp từ trước. Như một câu ngạn ngữ xưa có nói: Một con cá và một con chim có thể yêu nhau, nhưng chúng sẽ sống ở đâu? Chúng tôi đã tin rằng giải pháp cho tình thế tiến thoái lưỡng nan này là cả hai đều là những nhà du lịch giỏi xoay xở (tôi là một con chim có thể lặn và Felipe là một con cá có thể bay), vì vậy ít nhất là trong năm đầu tiên yêu nhau, về cơ bản chúng tôi đã sống ở giữa không trung – lặn và bay qua mấy đại dương và châu lục để được ở bên nhau.

Thật may là công việc đã tạo điều kiện cho chúng tôi được đi lại tùy ý. Là nhà văn, tôi có thể đem công việc của mình tới bất cứ nơi đâu. Là một nhà nhập khẩu nữ trang và đá quý để bán tại Mỹ, Felipe luôn phải đi nhiều. Tất cả những gì chúng tôi phải làm là phối hợp di chuyển với nhau. Vì vậy, khi thì tôi bay đến Bali, khi thì anh đến Mỹ, có lúc cả hai chúng tôi sang Brazil; lại có lúc chúng tôi gặp nhau tại Sydney. Tôi nhận một công việc tạm thời dạy viết văn tại trường Đại học Tennessee, và trong mấy tháng tìm hiểu ban đầu, chúng tôi đã sống với nhau trong một căn phòng khách sạn cũ tồi tàn ở Knoxville. (Tiện thể đây, tôi có thể khuyến nghị lối sống thỏa thuận đó cho bất cứ ai muốn kiểm tra mức độ hòa hợp trên thực tế của một mối quan hệ mới.)

Chúng tôi sống chủ yếu cùng nhau nhưng luôn luôn di chuyển, được chăng hay chớ, giống như các nhân chứng trong một số chương trình bảo vệ quốc tế lạ lùng nào đó. Mối quan hệ của chúng tôi – mặc dù vững chắc và bình yên nếu xét ở cấp độ cá nhân – là một thách thức liên tục về vấn đề hậu cần, và với tất cả những lần đi lại bằng hàng không quốc tế thì chi phí cao khủng khiếp. Thách thức đó còn gắn với những thử thách khó chịu về tâm lý. Cứ mỗi lần tái hợp, Felipe và tôi lại phải bắt đầu tìm hiểu nhau lại từ đầu. Mỗi lần đứng đợi anh ở sân bay là mỗi lần tôi cảm thấy vô cùng căng thẳng, lo lắng tự hỏi: Liệu tôi có còn hiểu anh? Liệu anh vẫn còn hiểu tôi? Do đó, sau năm đầu tiên, cả hai chúng tôi đã bắt đầu mong muốn một cái gì đó ổn định hơn, và Felipe là người đã thực hiện bước chuyển lớn lao. Anh đã từ bỏ ngôi nhà đơn sơ nhưng đáng yêu ở vùng nông thôn tại Bali, chuyển đến sống với tôi trong căn nhà nhỏ mà tôi mới thuê ở ngoại ô Philadelphia.

Mặc dù việc đánh đổi cuộc sống ở Bali lấy vùng ngoại ô Philly nghe có vẻ là một sự lựa chọn lạ lùng, nhưng Felipe thề rằng anh đã chán cuộc sống ở vùng nhiệt đới từ lâu rồi. Anh than phiền rằng cuộc sống tại Bali quá dễ dàng, mỗi ngày lại là bản sao dễ chịu nhưng nhàm chán của ngày hôm trước. Anh khẳng định rằng anh đã mong được rời khỏi nơi này từ lâu lắm rồi, thậm chí trước khi gặp tôi. Đối với một người chưa bao giờ thực sự sống ở thiên đường, cái ý nghĩ phát chán thiên đường dường như thật khó hiểu (tất nhiên tôi thấy ý nghĩ này có chút điên rồ), nhưng thành thực mà nói, qua năm tháng, khung cảnh thần tiên ở Bali đã trở nên buồn tẻ ngột ngạt đối với Felipe. Tôi sẽ không bao giờ quên một trong những buổi tối vui vẻ cuối cùng mà anh và tôi cùng nhau trải qua tại ngôi nhà nhỏ ở Bali của anh – ngồi ngoài trời, chân trần và da ướt đẫm sương trong khí trời ấm áp của tháng Mười một, uống rượu và ngắm một biển trời sao sáng lung linh huyền ảo bên trên những cánh đồng lúa. Khi những làn gió thơm nồng thổi xào xạc qua đám cọ và tiếng nhạc của một buổi lễ đền từ xa văng vẳng vọng lại lửng lơ trong gió, Felipe nhìn tôi, thở dài và nói dứt khoát, “Anh chán cuộc sống tẻ ngắt thế này lắm rồi. Anh muốn về Philly ngay lập tức.”

Thế là chúng tôi nhổ trại thẳng tiến đến Philadelphia (thành phố của những con đường đầy ổ gà không mấy thân thiện)! Thực tế là cả hai chúng tôi đều rất thích nơi này. Căn nhà thuê bé xinh của chúng tôi gần nơi ở của chị gái tôi và gia đình chị, điều này mang lại cảm giác hết sức thân thuộc, bởi vì tình cảm gắn bó với gia đình chị đã trở thành một phần thiết yếu đối với hạnh phúc của tôi trong bao nhiêu năm qua. Hơn nữa, sau nhiều năm phiêu bạt đến những miền đất xa xôi, cảm giác thật tuyệt vời, thậm chí như được hồi sinh khi sống ở Mỹ, một đất nước mà bất chấp tất cả những khuyết điểm của nó, vẫn hết sức thú vị đối với cả hai chúng tôi: cuộc sống hối hả, đa văn hóa, không ngừng phát triển, mâu thuẫn đến phát điên, đầy thách thức sáng tạo, và về cơ bản là một miền đất luôn luôn vận động.

Tại Philadelphia, Felipe và tôi đã xây dựng mái ấm và thực hiện giai đoạn sống chung thực sự đầu tiên với những thành công đáng khích lệ. Anh bán đồ trang sức còn tôi hoàn thành các những dự án viết lách đòi hỏi tôi phải ở yên một chỗ và nghiên cứu. Anh nấu nướng; tôi cắt cỏ ngoài vườn; thỉnh thoảng một trong hai chúng tôi sẽ hút bụi nhà cửa. Chúng tôi ở bên nhau rất hòa hợp dưới một mái nhà, phân chia công việc vặt hàng ngày mà không có vụ cãi vã nào. Chúng tôi cảm thấy lạc quan, tràn trề năng lượng và đầy tham vọng. Cuộc sống thật tuyệt.

Nhưng những giai đoạn ổn định như vậy đã không bao giờ có thể kéo dài. Do giới hạn thị thực của Felipe, anh chỉ có tối đa ba tháng lưu trú hợp pháp tại Hoa Kỳ, sau đó anh phải sang một quốc gia khác trong một thời gian ngắn. Vì vậy anh phải đi, còn tôi sẽ ở lại một mình với những cuốn sách và hàng xóm láng giềng trong khi anh vắng nhà. Vài tuần sau, anh sẽ quay lại Mỹ xin thị thực mới cho chín mươi ngày nữa và chúng tôi lại cùng nhau bắt đầu cuộc sống gia đình. Đó là một bằng chứng cho thấy cả hai chúng tôi đã thận trọng như thế nào khi nghĩ về vấn đề cam kết dài hơi, rằng thời gian chín mươi ngày chung sống dường như là hoàn hảo cho chúng tôi: đó chính xác là khoảng thời gian cho hai con người dễ tổn thương sống sót sau khi ly hôn lên kế hoạch tương lai mà cảm thấy không quá bị đe dọa. Và đôi lúc, khi thời gian biểu cho phép, tôi có thể cùng anh rời khỏi đất nước này khi thị thực của anh hết hạn.

Điều này lý giải tại sao một ngày nọ chúng tôi cùng nhau quay trở về Mỹ sau một chuyến công tác nước ngoài, hạ cánh ở Sân bay Quốc tế Dallas/Fort Worth, do chúng tôi mua vé giá rẻ nên phải bay chuyển tiếp. Tôi qua trạm kiểm soát nhập cảnh trước, di chuyển dễ dàng trong hàng người toàn những đồng hương Mỹ đang về nước. Khi đã qua trạm kiểm soát, tôi chờ Felipe, anh đang đứng giữa một hàng dài những người nước ngoài. Tôi quan sát anh đến gần nhân viên kiểm tra nhập cảnh, người này coi kỹ cuốn hộ chiếu Úc dày như cuốn Kinh Thánh của Felipe, xem xét từng trang, từng con dấu, từng ảnh nổi. Bình thường họ không quá cảnh giác như thế, tôi càng lúc càng lo lắng không biết bao giờ việc này mới xong. Tôi theo dõi và chờ đợi để nghe được âm thanh tối quan trọng của bất kỳ lần qua cửa khẩu thành công nào: cái tiếng cộp dày dặn, chắc nịch, đầy chào đón ấy khi con dấu đóng lên thị thực nhập cảnh. Nhưng âm thanh đó không bao giờ vang lên.

Thay vào đó, nhân viên nhập cảnh nhấc điện thoại và thực hiện một cuộc gọi kín đáo. Vài phút sau, một sĩ quan mặc đồng phục của Bộ An ninh Nội địa đến và dẫn người yêu của tôi đi.

Những nhân viên mặc đồng phục tại sân bay Dallas đã giam giữ Felipe để xét hỏi trong sáu giờ. Trong sáu tiếng đồng hồ đó, khi bị cấm gặp mặt anh hoặc hỏi han, tôi ngồi đó trong phòng đợi của Bộ An ninh Nội địa – một căn phòng buồn tẻ được thắp sáng bởi ánh đèn huỳnh quang chứa đầy những người dân đang trong tâm trạng lo âu sợ hãi đến từ khắp nơi trên thế giới, tất cả chúng tôi đều cứng đờ người vì lo sợ. Tôi không biết họ đối xử với Felipe như thế nào ở trong đó hay họ đang hỏi anh những gì. Tôi biết rằng anh không vi phạm bất kỳ quy định pháp luật nào, nhưng ý nghĩ này không làm tôi cảm thấy bớt lo lắng hơn như người ta có thể nghĩ. Đây là những năm cuối nhiệm kỳ của Tổng thống George W. Bush: không phải là một thời điểm dễ dàng trong lịch sử để người tình ngoại quốc của bạn bị chính quyền giam giữ. Tôi cố gắng trấn an mình bằng lời cầu nguyện nổi tiếng của nhà thần học thế kỷ mười bốn – Juliana xứ Norwich (“Mọi chuyện sẽ tốt đẹp, và mọi chuyện sẽ tốt đẹp, và tất cả sẽ tốt đẹp.”), nhưng trong thâm tâm tôi không tin một từ nào của lời cầu nguyện đó. Không có điều gì là tốt đẹp cả. Không có một điều gì trong toàn bộ chuyện này là tốt đẹp.

Thỉnh thoảng tôi lại đứng dậy khỏi chiếc ghế nhựa và cố gắng hỏi thêm thông tin từ nhân viên nhập cảnh ngồi sau tấm kính chống đạn. Nhưng anh ta phớt lờ lời cầu xin của tôi, lần nào cũng lặp lại cùng một câu trả lời: “Khi nào chúng tôi có thông tin gì về bạn trai của cô để báo cho cô, chúng tôi sẽ cho cô biết.”

Trong một tình huống như thế này, tôi chỉ có thể nói rằng, có lẽ trong tiếng Anh không có từ gì nghe có vẻ mong manh hơn từ bạn trai. Cách thức cực kỳ tùy tiện khi thốt ra từ ấy của tay nhân viên đó cho thấy anh ta cảm thấy mối quan hệ của tôi không mấy sâu sắc. Hà cớ gì mà một viên chức chính phủ phải tiết lộ thông tin về một người chỉ đơn thuần là bạn trai? Tôi nôn nóng muốn giải thích rõ về bản thân cho nhân viên nhập cảnh đó, muốn nói với anh ta rằng, “Nghe này, người đàn ông mà các anh đang giam giữ trong kia quan trọng đối với tôi hơn rất nhiều so với những gì mà anh có thể tưởng tượng.” Nhưng thậm chí trong tâm trạng rối bời ấy, tôi vẫn ngờ rằng việc đó chẳng được tích sự gì. Nếu có chuyện gì, tôi sợ rằng nếu làm căng mọi việc lên quá thì sẽ mang lại hậu quả xấu cho Felipe, vì thế tôi hãm lại, vô vọng. Mãi đến lúc ấy, tôi mới chợt lóe ra ý nghĩ gọi luật sư. Nhưng tôi không đem theo điện thoại, và tôi không muốn bỏ chỗ ngồi của mình trong phòng đợi, vả chăng tôi không biết bất kỳ luật sư nào tại Dallas, và dù sao đi nữa khi ấy đang là chiều Chủ nhật, tôi biết gọi cho ai bây giờ?

Cuối cùng, sau sáu tiếng đồng hồ, một viên cảnh sát đến dẫn tôi đi qua nhiều hành lang, băng qua một khu nhà với những ngõ ngách ẩn chứa những bí mật của cơ quan chính phủ, đến một căn phòng nhỏ sáng lờ mờ nơi Felipe đang ngồi với một nhân viên Bộ An ninh Nội địa phụ trách việc thẩm vấn anh. Trông cả hai đều có vẻ mệt mỏi, nhưng chỉ có một người trong bọn họ thuộc về tôi – khuôn mặt quen thuộc nhất, thân thương nhất trên thế giới này đối với tôi. Nhìn thấy anh trong hoàn cảnh như thế, ngực tôi nhói lên vì khao khát. Tôi muốn chạm vào anh, nhưng tôi cảm thấy rằng điều đó là không được phép, vì vậy tôi cứ đứng yên một chỗ.

Felipe mệt mỏi mỉm cười với tôi và nói, “Em yêu, cuộc sống của chúng ta sắp sửa xảy ra nhiều điều thú vị lắm đây.”

Trước khi tôi kịp trả lời, viên sĩ quan thẩm vấn nhanh chóng làm chủ tình hình và giải thích mọi chuyện.

“Chào cô,” ông ta nói, “chúng tôi đưa cô vào đây để giải thích rằng chúng tôi sẽ không cho phép bạn trai của cô nhập cảnh vào Mỹ nữa. Chúng tôi sẽ giữ anh ta trong trại tạm giam cho đến khi chúng tôi có thể đưa anh ta lên máy bay rời khỏi đất nước này, quay trở lại Úc bởi vì anh ta có hộ chiếu Úc. Sau đó, anh ta sẽ không thể quay lại Mỹ được nữa.”

Phản ứng đầu tiên của tôi là phản ứng thể xác. Tôi cảm thấy như thể toàn bộ máu trong cơ thể bốc hơi trong chớp nhoáng, mắt thoáng nhòe đi. Rồi thì, ngay sau đó, đầu óc tôi nhanh chóng hoạt động. Tôi tóm tắt vội toàn bộ cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và đột ngột này. Từ rất lâu trước khi chúng tôi gặp nhau, Felipe đã kiếm sống ở Mỹ, mỗi năm tới đây vài lần ngắn ngủi, nhập khẩu hợp pháp đá quý và đồ trang sức từ Brazil và Indonesia vào bán ở thị trường Mỹ. Nơi đây luôn chào đón các thương gia quốc tế như anh; những người đem hàng hóa, tiền bạc và thương mại vào đất nước này. Đổi lại, Felipe đã phát đạt ở Mỹ. Anh cho các con mình (giờ đã trưởng thành) đi học tại các trường học tư tốt nhất ở Úc bằng lợi nhuận mà anh kiếm được trong những năm làm ăn tại Mỹ. Nước Mỹ là trung tâm của sự nghiệp của anh, cho dù mãi tới rất gần đây anh mới tới sống ở xứ này. Nhưng hàng hóa của anh ở đây và tất cả các mối quan hệ đều ở đây. Nếu không bao giờ được trở lại Mỹ nữa, sinh kế của anh sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đấy là chưa nói đến việc tôi sống ở Mỹ và Felipe muốn sống với tôi, và – vì gia đình và công việc – tôi luôn muốn sống ở Mỹ. Felipe cũng đã trở thành một thành viên trong gia đình tôi. Anh được bố mẹ tôi, chị tôi, bạn bè tôi, cả thế giới của tôi yêu mến. Vậy thì làm thế nào chúng tôi có thể tiếp tục cuộc sống bên nhau nếu anh bị cấm cửa vĩnh viễn? Chúng tôi sẽ làm gì bây giờ? (“Anh và em sẽ ngủ nơi nào?” lời một bản tình ca buồn bã của người Wintu như vang lên đâu đó. “Ở mép bầu trời chực sụp đổ? Anh và em sẽ ngủ ở nơi nào?”)

“Các ông dựa vào đâu mà trục xuất anh ấy?” tôi hỏi viên sĩ quan Bộ An ninh Nội địa, cố gắng ra vẻ uy quyền.

“Nghiêm túc mà nói, thưa cô, đó không phải là trục xuất.” Không giống tôi, viên sĩ quan đó không cần phải cố tỏ vẻ quyền uy; giọng điệu quyền uy phát ra hết sức tự nhiên. “Chỉ là chúng tôi từ chối không cho anh ta nhập cảnh vào Mỹ dựa vào việc anh ta đã đến Mỹ quá thường xuyên trong năm qua. Anh ta không bao giờ ở quá hạn visa, nhưng căn cứ vào thời điểm đến và đi của anh ta, chúng tôi thấy rõ ràng là anh ta đến sống với cô tại Philadelphia trong những khoảng thời gian dài ba tháng rồi rời khỏi đất nước này, chỉ để ngay sau đó lại quay lại Mỹ.”

Khó mà cãi nổi, vì đó chính xác là những gì Felipe đã làm.

“Đó là tội ác à?” tôi hỏi.

“Không hẳn là như vậy.”

“Không hẳn, hay không phải?”

“Không, thưa cô, đó không phải là tội ác. Vì thế nên chúng tôi sẽ không bắt giam anh ta. Nhưng visa ba tháng mà chính phủ Mỹ cấp cho các công dân của các quốc gia có quan hệ thân thiện không dành cho những lần nhập cảnh liên tiếp vô hạn định.”

“Chúng tôi không biết về việc đó cơ đấy,” tôi nói.

Đến lúc này, Felipe nói xen vào. “Trên thực tế, thưa ông, một nhân viên quản lý nhập cảnh ở New York từng nói với chúng tôi rằng tôi có thể đến Mỹ thường xuyên thế nào tùy thích, miễn là tôi không bao giờ được ở quá hạn visa chín mươi ngày.”

“Tôi không biết người nào đã nói với anh điều đó, nhưng điều đó là không đúng.”

Nghe viên sĩ quan nói vậy, tôi chợt nhớ đến một lời cảnh báo về việc qua cửa khẩu quốc tế mà Felipe từng nói với tôi: “Em yêu, đừng bao giờ xem nhẹ việc đó. Phải luôn ghi nhớ rằng vào một ngày bất kỳ nào đó, vì một lý do bất kỳ nào đó, một tay lính biên phòng bất kỳ nào trên thế giới đều có thể quyết định rằng anh ta không muốn cho em đi qua.”

“Nếu ông rơi vào cảnh ngộ của chúng tôi thì bây giờ ông sẽ làm gì?” tôi hỏi. Đây là một kỹ thuật mà tôi đã học được qua nhiều năm mỗi khi tôi thấy mình bế tắc với một nhà cung cấp dịch vụ khách hàng thiếu nhiệt tình hoặc một viên chức chính phủ thờ ơ. Diễn đạt câu nói đó theo cái cách yêu cầu kẻ nắm mọi quyền hành ấy tạm ngừng trong giây lát để đặt bản thân anh ta vào tình cảnh của những người không có quyền hành. Đó là lời kêu gọi sự cảm thông một cách tinh tế. Thỉnh thoảng cách đó có hiệu quả. Nhưng thành thật mà nói, đa số mọi lần nó chẳng giúp ích được gì. Dù sao lúc này tôi đang sẵn sàng thử bất cứ cách nào.

“À, nếu bạn trai của cô muốn quay lại nước Mỹ lần nữa, anh ta cần có sự đảm bảo cho bản thân tốt hơn, một visa dài hạn hơn. Nếu là cô, tôi sẽ đảm bảo cho anh ta một visa dài hạn.”

“Được rồi,” tôi hỏi tiếp. “Cách nào nhanh nhất để chúng tôi có thể kiếm được cho anh ấy một visa dài hạn hơn và tốt hơn?”

Viên sĩ quan Bộ An ninh Nội địa nhìn Felipe, sau đó nhìn tôi, và quay lại nhìn Felipe. “Thật tình hai người không biết à?” ông ta nói. “Hai người cần kết hôn.”

[…]

Comments

comments

Leave a Reply

Top