You are here
Home > Doc sach

The Time Traveler’s Wife (Trích đoạn 3)

Sau đó vào buổi tối :

HENRY: Vào đúng 6 giờ tối. Tôi phóng về nhà và cố gắng làm cho mình trông thật hấp dẫn. Nhà của tôi trong những ngày này là một căn hộ độc thân nhỏ nhưng đắt điên rồ ở North Dearborn; tôi liên tục va phải những bức tường, mặt phẳng, và đồ đạc phiền phức. Bước một: mở cái khóa thứ mười bảy trên cửa căn hộ, nhào vào phòng khách mà cũng là phòng ngủ của tôi và bắt đầu cởi đồ. Bước hai: tắm và cạo râu. Bước ba: nhìn vô vọng vào sâu trong phòng để đồ của tôi, dần dần nhận ra rằng không có gì sạch thực sự. Tôi tìm thấy một cái áo sơ mi trắng vẫn ở trong túi giặt khô của nó. Tôi quyết định mặc bộ complê đen, áo bẻ cổ , và cà vạt màu xanh nhạt. Bước bốn: làm xong tất cả những thứ đó và nhận ra rằng tôi trông giống một đặc vụ FBI. Bước năm: nhìn quanh và thấy căn hộ thật là lộn xộn. Tôi quyết tâm tránh đưa Clare về căn hộ của tôi đêm nay dù chuyện đó có thể được đi chăng nữa. Bước sáu: nhìn vào tấm gương dài trong phòng tắm và trông xương xương, nhìn giống như một Egon Schiele mười tuổi nhướn mắt to trong chiếc áo sơ mi sạch và bộ đồ người điều khiển tang lễ. Tôi tự hỏi người phụ nữ này đã nhìn thấy tôi mặc trang phục gì vì rõ ràng là tôi không từ tương lai đến quá khứ của cô ấy với trang phục của mình. Cô ấy đã nói cô ấy là một cô bé à? Một đống thứ không trả lời được chạy qua trong đầu tôi. Tôi dừng lại và hít thở trong một phút. Được rồi. Tôi cầm lấy ví và chìa khóa của tôi, và tôi đi: khóa ổ khóa thứ ba mươi bảy, đi xuống bằng thang máy nhỏ tròng trành, mua hoa hồng cho Clare ở quầy hoa ngoài sảnh, đi bộ hai khu nhà đến nhà hàng với thời gian kỷ lục nhưng vẫn muộn năm phút. Clare đã ngồi trong quán và cô ấy có vẻ nhẹ người khi nhìn thấy tôi. Cô ấy vẫy tôi như là cô ấy đang ở một cuộc diễu hành vậy.
Tôi nói “Xin chào”. Clare mặc một bộ áo nhung màu rượu và đeo ngọc trai. Trông cô ấy như một Botticelli theo cách của John Graham: đôi mắt to màu xám nhạt , mũi cao, miệng nhỏ nhắn như một geisha. Cô ấy có mái tóc dài màu đỏ phủ qua vai và rủ xuống ngang lưng. Clare rất nhợt nhạt, trông cô ấy như nặn bằng sáp trong ánh nến. Tôi giúi hoa hồng vào cô ấy. “Tặng em.”

Clare nói “Cảm ơn anh”, vẻ hài lòng rất buồn cười. Cô ấy nhìn tôi và nhận ra tôi đang bối rối vì phản ứng của cô . “Trước đây anh chưa bao giờ tặng em hoa”

Tôi trượt vào trong chỗ ngồi đối diện cô ấy. Tôi bị mê hoặc. Người phụ nữ này biết tôi; đây không phải biết chút ít thoảng qua về kỷ nguyên tương lai của tôi. Người bồi bàn xuất hiện và đưa menu cho chúng tôi.

“Nói cho tôi biết đi.” Tôi đề nghị.
“Gì cơ?”
“Mọi thứ. Ý tôi là, em có hiểu tại sao tôi không biết em không? Tôi rất xin lỗi về điều đó”
“Ồ, không, anh không phải thế. Ý em là, em biết… tại sao lại thế.” Clare nói thấp giọng. “Đó là vì với anh chưa có gì xảy ra cả, nhưng với em, vâng, em đã biết anh một thời gian dài rồi.”
“Bao lâu?”
“Khoảng mười bốn năm. Em gặp anh lần đầu khi em sáu tuổi”
“Chúa ơi. Em có gặp tôi thường xuyên không? Hay chỉ vài lần?”
“Lần cuối em gặp anh, anh đã bảo em mang cái này đến bữa tối khi chúng ta gặp lại lần nữa” Clare chỉ cho tôi xem một cuốn nhật ký của trẻ con màu xanh nhạt, “nên nó đây” – cô ấy đưa nó cho tôi – “anh có thể đọc đi .” Tôi mở cuốn nhật ký đến chỗ nó được đánh dấu bởi một mẩu báo. Trang mà có hai chú *** Cốc con tai cụp đang núp ở góc trên bên phải là một danh sách các ngày. Nó bắt đầu là ngày 23 tháng 9 năm 1977, và kết thúc sau mười sáu trang *** con màu xanh nhỏ sau đó vào ngày 24 tháng 5 năm 1989. Tôi đếm. Có tất cả 152 cuộc hò hẹn , được viết rất cẩn thận bằng cây bút bi Palmer Method to màu xanh của một đứa trẻ sáu tuổi.
“Em đã làm bản liệt kê này à? Tất cả chúng đều chính xác chứ?”
“Thực ra, anh đã đọc chúng cho em. Vài năm trước đây anh đã bảo em là anh nhớ những ngày trong bản liệt kê này. Nên em không biết chính xác cái này là thế nào; ý em là nó có vẻ giống như một dải Mobius. Nhưng tất cả đều chính xác. Em đã dùng chúng để biết khi nào đi xuống khu Đồng cỏ để gặp anh.” Người bồi bàn lại xuất hiện và chúng tôi gọi món: Tom Kha Kai cho tôi và Gang Mussaman cho Clare. Một người hầu bạn mang trà ra và tôi rót mỗi người một chén.
“Khu Đồng cỏ là gì?” Tôi thực sự nhảy bật lên thích thú. Trước đây tôi chưa bao giờ gặp ai từ tương lai của tôi, hơn nữa lại là một Botticelli người đã gặp tôi 152 lần.

“Khu Đồng cỏ là một phần nơi ở ba mẹ em ở gần Michigan. Một bên có rừng cây còn ngôi nhà ở phía bên kia. Khoảng giữa là một mảnh rừng thưa với chu vi đọ vài chục mét có những viên đá to, và nếu anh ở trong khoảng rừng thưa đó không ai ở trong nhà có thể thấy anh vì có một giồng đất gồ lên và rồi lõm xuống ở giữa đó. Em thường chơi ở đấy vì em thích chơi một mình và em nghĩ không ai biết em ở đó. Một hôm khi em lên lớp một , em đi từ trường về nhà và đi ra bìa rừng , anh đã ở đó.”
“Trần như nhộng và có thể là đang nôn”
“Thực tế, anh có vẻ khá tự chủ . Em nhớ là anh biết tên em, và em nhớ anh đang tan biến đi một cách ngoạn mục. Hồi tưởng lại, rõ ràng là anh đã ở đó trước đây. Em nghĩ lần đầu tiên cho anh là năm 1981; em mười tuổi. Anh vẫn thốt lên “Ôi, lạy chúa tôi”, và nhìn em chằm chằm. Anh cũng có vẻ khá choáng về tình trạng khỏa thân, và từ đó em cứ coi như gã khỏa thân già sẽ xuất hiện một cách thần diệu từ tương lai và xin quần áo.” Clare mỉm cười. “Và thức ăn nữa”
“Cái gì kỳ cục vậy?”
“Em đã làm cho anh vài bữa ăn khá lạ trong những năm đó. Bơ đậu phộng và bánh sandwich cá. Khoai sọ và củ cải đường với quy Ritz. Em nghĩ một phần em đã muốn xem liệu có cái gì anh không ăn không và một phần là em đã cố làm anh ấn tượng với tài năng nấu nướng của em.”
“Anh lúc đó bao nhiêu tuổi?”
“Em nghĩ em nhìn thấy anh già nhất là khoảng bốn mấy tuổi. Em không chắc lắm về lúc trẻ nhất, có thể là ba mươi chăng? Bây giờ anh bao nhiêu tuổi?”
“Hai mươi tám”
“Đối với em bây giờ anh trông rất trẻ. Vài năm trước anh gần như ở tuổi bốn mươi, và anh có vẻ có một cuộc sống biến động… Rất khó nói. Khi anh còn nhỏ tất cả người lớn đều có vẻ to lớn và già.”
“Vậy chúng ta đã làm gì? Ở khu ‘Đồng cỏ ấy ? Ở đó khá lâu mà .”
Clare mỉm cười. “Chúng ta làm rất nhiều thứ. Việc đó thay đổi tùy vào tuổi của em, và thời tiết. Anh dành nhiều thời gian giúp em làm bài tập về nhà. Chúng ta đã chơi trò chơi. Phần lớn chúng ta chỉ nói chuyện về mọi thứ. Khi em còn bé em đã nghĩ anh là một thiên thần; em đã hỏi anh rất nhiều câu hỏi về Chúa. Khi em ở tuổi thiếu niên em đã cố bắt anh làm tình với em, và anh không bao giờ làm, điều đó tất nhiên làm em quyết tâm về nó hơn. Em nghĩ anh đã nghĩ là anh sẽ làm em suy nghĩ lệch lạc về tình dục, không biết nữa. Theo cách nào đó anh rất có lối cư xử kiểu cha chú gì đó .”
“Ồ. Đó có thể là tin tốt nhưng dù thế nào lúc này tôi không có vẻ muốn bị nghĩ như là cha chú .” Mắt chúng tôi gặp nhau. Cả hai chúng tôi đều cười và chúng tôi là những kẻ đồng lõa. “Thế còn mùa đông? Mùa đông của Michigan khá khắc nghiệt.”
“Em thường lén đưa anh vào trong tầng hầm của nhà em ; ngôi nhà có một tầng hầm lớn với nhiều gian nhỏ , và một trong những gian đó là kho và lò sưởi ở bên mặt kia của bức tường. Chúng em gọi đó là Phòng đọc vì tất cả những quyển sách cũ và tạp chí cũ không dùng nữa được cất ở đó. Một lần anh ở dưới đó và có một trận bão tuyết, không ai đi đến trường hay đi làm được và em nghĩ là em đã phát điên với việc cố gắng lấy được thức ăn cho anh vì không có nhiều thức ăn trong nhà. Etta đã định đi chợ khi cơn bão đến. Nên anh bị kẹt phải đọc cuốn Tập san Độc giả trong suốt ba ngày, sống nhờ cá mòi và mì.”
“Nghe mặn nhỉ. Tôi sẽ mong đến lúc đó.” Món ăn cúa chúng tôi đến. “Em đã bao giờ học nấu ăn chưa?”
“Chưa, em không nghĩ là em sẽ phải biết nấu ăn. Nell và Etta luôn phát rồ khi em làm cái gì đó ở trong bếp của họ ngoại trừ lấy một lon Côca cho bản thân mình , và tử khi em chuyển đến Chicago thì không còn ai nấu cho nữa, nên em đã phải buộc mình làm việc đó. Thường là em quá bận ở trường và tất cả, nên ăn luôn ở đó.” Clare ăn một miếng cari của cô ấy. “Cái này thật là ngon”
“Nell và Etta là ai?”
“Nell là đầu bếp của nhà em” Clare mỉm cười. “Nell giống như đầu bếp hạng nhất gặp Detroit; bà ấy biết Aretha Franklin sẽ thế nào nếu bà ấy là Julia Child. Etta là người quản gia và trông nom mọi thứ . Bà ấy thực sự gần như là mẹ của chúng em; ý em là mẹ em thì… ờ, Etta thì luôn luôn ở đó, bà ấy là người Đức và nghiêm khắc, nhưng bà ấy rất biết an ủi, còn mẹ em thì là luôn luôn ở trên mây , anh hiểu không?
Tôi gật đầu, mồm đấy súp.
“Ồ, và có Peter nữa” Clare nói thêm. “Peter là người làm vườn”
“Wow. Gia đình em có những người giúp việc. Nghe giống như không thuộc thế giới của tôi. Tôi đã bao giờ, ờ, gặp ai trong gia đình của em chưa?”
“Anh đã gặp bà ngoại Meagram của em ngay trước khi bà mất. Bà là người duy nhất em từng kể về anh. Lúc đó bà gần như mù rồi. Bà biết là chúng ta sẽ lấy nhau và bà đã muốn gặp anh.”
Tôi dừng ăn và nhìn Clare. Cô ấy nhìn lại tôi, trong sáng, thiên thần, hoàn toàn thư giãn. “Chúng ta sẽ cưới nhau à?”

(còn tiếp)

Comments

comments

Leave a Reply

Top