You are here
Home > Phim

Minari (2020) – Hành trình CÂY và NGƯỜI

Giá trị nghệ thuật mà người nghệ sĩ tạo ra không phải là “hình” mà là “bóng”, đây cũng là thứ để đánh giá một tác phẩm nghệ thuật đích thực. Và giải thưởng điện ảnh danh giá OSCAR luôn lấy đó là “công thức” nhằm tôn vinh những tác phẩm xuất sắc. Bởi vậy, không có gì bất ngờ khi một bộ phim giản dị như Minari (2020) nhận được nhiều đề cử OSCAR. Dù dự đoán nó sẽ không giành giải cao nhất, nhưng đây là một tác phẩm đặc sắc với nhiều dụ ngôn và ngụ ngôn sâu sắc.

Lấy biểu tượng Minari – tên một loại cây trong tiếng Hàn có nghĩa là cây cần nước, bộ phim là hai câu chuyện gắn kết với nhau như “hình” và “bóng”.

Câu chuyện “hình” là hành trình di cư của con người – một gia đình nhập cư người Hàn Quốc, đã quyết định chuyển từ thành phố để về một vùng quê Mỹ và chọn cách khởi nghiệp là gieo trồng những hạt giống từ Hàn Quốc để làm nguồn lương thực cho những người đồng hương trên đất Mỹ.

Câu chuyện “bóng” là hành trình di trú của tự nhiên – những hạt giống từ Hàn Quốc. CÂY và NGƯỜI trong Minari đều có tham vọng được “cắm” mình vào vùng đất mới. Đây không chỉ là mong muốn được nhớ về mảnh đất quê hương, mà còn là tham vọng “Hàn hóa” được mảnh đất này, nhưng liệu họ có thành công? Minari có rất nhiều những ẩn dụ tinh tế ngợi ca sức sống mãnh liệt của con người và tự nhiên cũng như phản ánh nhiều vấn đề trong hiện thực cuộc sống của người nhập cư tại Mỹ.

LÝ TRÍ hay TRỰC GIÁC

Nhân vật chính trong phim là một người đàn ông Hàn Quốc, một người chồng – người cha hết lòng vì gia đình với tham vọng lập nghiệp từ hai bàn tay trắng. Anh là một người tin tưởng tuyệt đối vào lý trí và luôn hành động theo ý mình. Anh sẵn sàng mua một mảnh đất mà chẳng ai dám mua và chuyển cả gia đình từ thành phố về nông thôn để khởi nghiệp. Anh cũng không tin vào những lời cầu nguyện, vào những mẹo tìm nguồn nước của những người hàng xóm. Điều này cho thấy một thái độ kiên định, mạnh mẽ. Đối với anh chỉ cần sự cố gắng, nỗ lực của bàn tay, khối óc con người thì “sỏi đá sẽ thành cơm”. Và anh đã chứng minh được điều đó, mảnh đất đã đền đáp lại công sức lao động cần cù của anh bằng một vụ mùa thành công. Nhưng chính lúc này, con người và tự nhiên lại cho anh những bài học nhớ đời.

Đó là bài học từ những người đồng hương đã cho anh hiểu hiện thực phũ phàng của cuộc sống rằng: không thể tin vào những lời hứa hẹn.

Đó là bài học từ chính những người hàng xóm tưởng như là gàn dở, mê muội đã cho anh thấy rằng: thứ mà anh không ngờ tới lại có thể là cứu cánh của anh.

Và loài cây nhỏ bé Minari cũng cho anh một bài học lớn lao về sức mạnh của tự nhiên, của cây cỏ, của đất, nước và sự sống này. Cuối cùng thì hành trình thay đổi trong suy nghĩ của người chồng cho chúng ta một sự thật rằng: con người sẽ chẳng thể sống nếu thiếu đi trực giác. Lý trí giúp chúng ta hành động, nhưng để thành công còn cần đến cả trực giác. Đó không phải là những cảm tính mù quáng, mê tín mà là niềm tin. Con người muốn sinh sống và phát triển đều cần tin vào sự mách bảo của trực giác, mà trực giác ấy chính là sự cảm nhận với đất, nước và tự nhiên mà lý trí không phải lúc nào cũng đúng. Con người cần niềm tin cũng như cây cần nước.

TRUYỀN THỐNG và HIỆN ĐẠI

Nếu nhân vật người cha là xung đột giữa lý trí và trực giác, thì mối quan hệ giữa hai nhân vật: bà ngoại và cậu bé – là những xung đột giữa truyền thống và hiện đại. Nhân vật đứa cháu trai luôn đổ tội cho người bà là nguyên nhân cho cuộc cãi vã của bố mẹ và những rắc rối xảy ra với gia đình. Cậu không yêu bà bởi thứ nước thảo dược đắng ngắt mà bà mang từ Hàn Quốc sang Mỹ, đó như là việc cậu phải tiếp nhận một thứ truyền thống “khó nuốt”. Trong mắt cậu người bà có mùi Hàn Quốc nhưng đó không phải là một người bà bình thường. Nhân vật người bà ngoại trong phim đại diện cho hình ảnh của quê hương. Bà vừa là gánh nặng cho con cháu nhưng cũng vừa là người mang đến nguồn sống. Ngọn lửa mà bà vô tình thổi bùng lên vừa là tình yêu cháy bỏng có thể thiêu đốt ước mơ, hoài bão của những đứa con, nhưng trong đống tro tàn ấy, sự sống sẽ hồi sinh. Người bà cũng cho chúng ta thấy giá trị của đất. Mảnh đất mà cậu con rể mua vì tin rằng nó mầu mỡ, nhưng thực ra thì chẳng ai dám mua và những người hàng xóm thấy bất ngờ khi mảnh đất đó bán được. Và chính bà đã cho anh, cũng nhưng chúng ta hiểu về giá trị của đất nằm ở việc đi vào rừng cũng như là đi vào tự nhiên, chỉ có ở đó chúng ta mới thấy sức sống của đất, nước và cỏ cây.

GIẤC MƠ MỸ và SỰ PHÂN RÃ CỦA CON NGƯỜI

Giấc mơ Mỹ trong phim được thể hiện qua hình tượng: ngôi nhà trên xe là hình ảnh ẩn dụ về chuyến hành trình đến mảnh đất mới, và nhân vật cậu bé với ẩn dụ là giấc mơ có thực. Một chi tiết rất đắt trong phim mà ai cũng đã từng như cậu bé: rõ ràng thấy mình vào toilet rồi vậy mà chỉ đến khi tè thực sự chúng ta mới biết là mình đang ở trên giường. Giấc mơ của cậu bé có phần “ê trề” như giấc mơ của cha mẹ cậu, khi mong muốn đến Mỹ để có cuộc sống tốt đẹp hơn, thực tế thì họ vấp phải quá nhiều khó khăn. Nhưng đó là giấc mơ có thực, chỉ là không đúng lúc, đúng chỗ. Và một chi tiết rất thú vị, khi người mẹ dạy cậu cách kiểm soát bằng việc trước khi đi tè hãy bẹo má rồi tự hỏi: Đây có phải là mơ. Để rồi, một hành động có thể là “đắt” nhưng khá nhạy cảm trong phim, đó là khi cậu cháu trai đổ bát thuốc và tè vào đó rồi đưa cho bà ngoại uống. Có lẽ không cần phải mổ xẻ chi tiết này vì có thể sẽ phát sinh nhiều ý tiêu cực.

Xem Minari mang đến một cảm giác lạnh, bởi bộ phim không có cái không khí ấm áp tình cảm gia đình quen thuộc của người châu Á. Đó là những bữa cơm quây quần, ở đó thể hiện đầy đủ văn hoá, lễ nghi và lối sống. Điều này thể hiện ở nhiều lý do, bởi gánh nặng lo toan về cơm áo gạo tiền đã khiến cho một gia đình Hàn Quốc trôi dạt trên đất Mỹ đã làm mờ đi những sự kết nối với gia đình và sự đứt gẫy của truyền thống. Trong phim có duy nhất một phân cảnh bữa cơm đầy đủ cả gia đình, đặc biệt lại có vị khách hàng xóm người Mỹ. Đây là một chi tiết cũng rất hay trong phim, khi ông hàng xóm – người vẫn còn giữ một tờ tiền chiến tranh Hàn Quốc, phim không nói rõ về quá khứ của ông, mà chỉ để khán giả hiểu được ông đã có một quá khứ khó khăn liên quan tới Hàn Quốc, và giờ ông lại có thể ngồi chung một mâm cơm với một gia đình Hàn Quốc. Ông ta cũng là một người sùng đạo, bởi đó là thứ duy nhất có thể giúp ông vượt qua được những nỗi đau trong quá khứ. Cảnh ông hàng xóm làm phép trong nhà và anh chồng ngồi gác chân trên sofa thể hiện thái độ tức giận và coi thường. Mặc dù sau tất cả họ cũng nhận ra tình bạn, tình hàng xóm, tình yêu thương gia đình, và tìm lại được sự kết nối với những người đồng hương, nhưng chi tiết này càng cho thấy hình ảnh người Hàn trên phim được khắc họa có phần hà khắc nhưng có lẽ đó là thực tế trên đất Mỹ, nơi quê hương tan rã và con người thì “phân rã”.

Vấn đề con người phân rã trong Minari được thể hiện cũng có phần cực đoan. Từ việc gia đình người Hàn sử dụng tên tiếng Anh, tới những bữa cơm gia đình rời rạc, thái độ coi thường của người chồng với những người hàng xóm, và mặc dù cùng làm việc ở trang trại với những người đồng hương nhưng họ cũng không có bất kỳ mối liên hệ nào ngoài công việc. Chi tiết đặc sắc và mang tính ẩn dụ sâu xa là công việc phân loại gà trống và mái của cặp vợ chồng. Nó không mang ý nghĩa phân biệt giới tính mà đó là một ẩn dụ rất đắt về đất Mỹ nơi lợi ích kinh tế đặt lên trước vấn đề giống loài và con người sẵn sàng bị đào thải nếu vô dụng. Có lẽ chính môi trường khắc nghiệt ấy đã biến người đàn ông nhập cư có vẻ ngoài hiền lành nhưng trong hành động và suy nghĩ có phần cực đoan. Với cách xây dựng nhân vật như vậy, khiến cho phim cũng có nhiều chi tiết thừa và thiếu.

THỪA và THIẾU

Minari được xây dựng với ngôn ngữ điện ảnh giản dị, không phô trương điều này mang đến cho khán giả một cảm giác dễ chịu khi tập trung vào câu chuyện mà không quá bị xao nhãng vào những thủ pháp điện ảnh hay những góc máy quá nghệ thuật. Góc máy đắt nhất là đoạn hội thoại giữa hai vợ chồng ở bệnh viện, khi người vợ quay lưng để tập trung vào khuôn mặt của người chồng đang đối diện với cô. Một chi tiết thể hiện đúng cảm xúc và hoàn cảnh của họ, khi người vợ không còn đứng về phía ủng hộ người chồng nữa.

Phim chủ yếu sử dụng âm thanh từ đời sống điều này tạo cho người xem cảm giác như một câu chuyện đời thực. Tuy nhiên chính điều này làm cho những bản nhạc trong phim dù rất hay, nhưng đôi chỗ nó thực sự không cần thiết phải vang lên. Kịch bản của Minari được xây dựng tương đối chặt chẽ, nhiều chi tiết mang tính ẩn dụ, ví dụ như: hành động tìm nước bằng cành cây, món tiền của bà ngoại, bệnh tim khiến cậu con trai không thể chạy, công việc đốt rác,… khi biên kịch đặt ra thì kịch bản đều có sự tái hiện và xử lý triệt để. Tuy nhiên vẫn có những chi tiết thừa và thiếu. Thời lượng phim dài gần hai tiếng nhưng vẫn thiếu hai chi tiết quan trọng là chuyện: ĂN – HỌC.

ĂN – là bữa cơm gia đình, với người châu Á thể hiện đầy đủ văn hoá và những mối quan hệ. Tuy nhiên trong Minari những bữa ăn gia đình đều rời rạc, mỗi người ăn một chỗ. Không biết có phải là ý đồ của biên kịch hay không, nhưng điều này khiến cho phim bị lạnh. Mặc dù cuối cùng thì cả gia đình cũng ăn chung một bữa và ngủ cùng nhau trên sàn nhà, nhưng hai phân cảnh này không đủ để mang đến cảm giác ấm cúng cho khán giả.

HỌC – phim không đề cập đến chuyện đi học của hai đứa trẻ. Sẽ trọn vẹn hơn nếu phim khai thác thêm chi tiết này để bồi đắp cho hành trình di cư với vấn đề tiếp thu nền văn hoá, văn minh mới. Bên cạnh đó, kịch bản vẫn mắc một số lỗi về việc minh họa bằng lời thoại. Điển hình là cuộc hội thoại giải thích về công việc phân loại gà, đến vấn đề bệnh viện cách 1 giờ lái xe, không tìm được người giúp việc… Đặc biệt chi tiết cậu con trai và bố trò chuyện về công việc phân loại gà là rất đắt nhưng lại thừa. Thứ nhất, kịch bản phải mượn lời thoại của ông bố để giải thích, sẽ hay hơn khi để người xem tự chiêm nghiệm về chi tiết này. Thứ hai, về mặt logic bị thừa, bởi hai vợ chồng họ đã có kinh nghiệm làm công việc này từ thành phố, đương nhiên cậu con trai đã phải biết về công việc này từ trước rồi, vậy nên phân đoạn này có phần gượng ép. Phương án giải quyết rất đơn giản, thay đoạn hội thoại của 2 bố con về gà bằng việc người mẹ hỏi chuyện với những người làm cùng tại trang trại về việc muốn tìm người trông trẻ.

Một số hành động trong phim cũng chưa xây dựng được động cơ hợp lý. Nhân vật cô con gái dường như bị thừa vì có cũng được mà không có thì cũng không ảnh hưởng lắm tới phim. Có thể dễ dàng nhận thấy, nhiệm vụ chính của cô bé trong phim là đốt rác để có ngọn lửa ở cuối phim và gọi điện thoại cho mẹ khi người bà bị tai biến. Tuy nhiên, việc đốt rác có thể để người mẹ và người bà làm từ trước đó. Và việc cô bé có khả năng gọi điện thoại khi bà bị tai biến, chứng tỏ cô bé đủ lớn để trông em. Chi tiết này gây ra một mâu thuẫn trong kịch bản khi hai vợ chồng phải đón người bà ngoại từ Hàn Quốc sang để trông con, trong khi cô con gái lớn hoàn toàn có thể trông cậu em trai bị bệnh tim. Hơn nữa, khi để nhân vật cậu con trai một mình, không có anh chị em sẽ càng thể hiện được bản tính ích kỷ của cậu bé, cũng như để tập trung vào mối xung đột giữa bà ngoại và cậu cháu trai.

Một điều chưa hợp logic khi suốt cả phim tình cảm của hai bà cháu bị xây dựng theo hướng tiêu cực, sự thay đổi chưa được khắc hoạ rõ nét, vậy mà khi người bà gây ra hỏa hoạn ngay lập tức đứa cháu lại chạy theo bà. Cứ cho đây là hành động vô thức nhưng nó chưa đủ để tạo động cơ hợp lý dẫn đến hành động thay đổi tình cảm của nhân vật. Hơn nữa mối quan tâm lớn hơn của chúng lúc này phải là bố mẹ chúng đang phải chiến đấu với đám cháy đang bùng lên dữ dội. Một chi tiết cũng đáng tiếc khi phim không khai thác triệt để là sau vụ hoả hoạn, sẽ hay hơn ở bối cảnh ở đọan kết khi cặp vợ chồng đã làm theo phương pháp tìm nguồn nước của ông hàng xóm, bắt đầu từ chính đám cháy đã xảy ra, để thể hiện cho sự hồi sinh từ đống tro tàn.

Những chi tiết thừa và thiếu trên đây khiến cho phim bị nặng về hình thức khi cố gắng cài cắm quá nhiều ẩn dụ nhưng không cân bằng được tính hiện thực. Mặc dù vậy, bộ phim vẫn xứng đáng được đề cử Oscar – giải thưởng phim uy tín của Mỹ. Dù xét ra có thể là vì hình ảnh người châu Á trong phim được xây dựng có phần tiêu cực, khi họ gần như không có sự kết nối nào với nhau nơi xứ người, mà chính những người Mỹ lại là người giúp họ gây dựng cuộc sống ở đây. Và nếu chỉ xét về khía cạnh câu chuyện của người nhập cư thì chắc chắn là chưa đủ, bởi điều tạo nên giá trị đích thực của Minari chính là những ẩn dụ ngợi ca sức sống mạnh mẽ của con người và tự nhiên.

BÀI HỌC VỀ SỨC MẠNH CỦA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN

Môt chi tiết rất thú vị trong Minari là hành động ông hàng xóm người Mỹ bịt mắt và tay cầm cành cây, đó là mẹo để con người tìm được nguồn nước. Trong mắt người đàn ông Hàn Quốc đây là một việc nhảm nhí bởi anh quan niệm: “Đừng bao giờ trả cho những thứ miễn phí… Chúng ta lấy nước từ lòng đất, đó là cách sử dụng trí óc của mình.” Anh lợi dụng tự nhiên nhưng cũng chẳng thể điều khiển được tự nhiên. Bởi tự nhiên có quy luật của riêng nó, rất đơn giản như trong suy nghĩ rất bản năng và hồn nhiên của cậu con trai rằng: “Vì cây thích nước” cũng như con người cần tự nhiên. Vấn đề là để kết nối với tự nhiên thì đôi khi phải dựa cả vào trực giác và cảm quan.

Sức mạnh của tự nhiên còn được thể hiện ở căn bệnh tim bẩm sinh của cậu bé và cây Minari. Đây cũng là hai chi tiết ẩn dụ sâu sắc. Trái tim yếu đuối của cậu bé cuối cùng cũng có thể tự chữa lành và trở nên mạnh mẽ trong quá trình trưởng thành mà không cần đến sự can thiệp của y học. Điều đó thể hiện sức sống mãnh liệt của con người, cũng như cây Minari có thể phát triển mạnh mẽ mà không cần sự chăm sóc. Đó là sức mạnh và sự chiến thắng của tự nhiên.

CÂY CẦN NƯỚC NHƯ CON NGƯỜI CẦN TỰ NHIÊN

Nhân vật đắt giá và xứng đáng đề cử Oscar diễn viên phụ xuất sắc nhất không phải vai bà ngoại mà chính là Minari. Bản chiếu rạp Minari được dịch ra tiếng Việt là cây cần nước, lại càng làm nổi bật một biểu tượng tuyệt đẹp về sức sống mãnh liệt của tự nhiên và nghị lực phi thường của con người khi hướng về nguồn cội.

Giống như cây Minari có thể tự sinh trưởng ở bất cứ nơi đâu, dù là Hàn Quốc hay Mỹ, thì con người cũng có thể sinh sôi, phát triển. Đó là quy luật trường tồn của tự nhiên và cũng là lý do khiến khán giả có thể khóc vì xem cảnh kết thúc của phim, khi 2 cha con ra dòng suối và hái những cành Minari mọc um tùm, xanh tươi. Bởi Minari đã cho chúng ta một niềm tin vào sức sống mãnh liệt của tự nhiên và con người trong mọi hoàn cảnh.

Hành trình di trú của CÂY và NGƯỜI trong Minari mang đến một chân lý sống rằng: nền tảng để con người thích nghi và phát triển trong môi trường mới không phải là để lựa chọn giữa: gia đình hay sự nghiệp, lý trí hay trực giác; mà nó cần sự hoà hợp giữa: đất và nước, khoa học và bản năng, lý trí và trực giác… thiếu đi yếu tố nào vườn cây sẽ không thể đơm hoa kết quả và Minari cũng không thể phát triển mạnh mẽ.

Minari cũng mang đến một thông điệp ý nghĩa rằng: cây cần nước, như con người cần tự nhiên và cần có nhau.

#Hanhfm

Comments

comments

Leave a Reply

Top