You are here
Home > Đọc

Làm lành với hôn nhân – Trích đoạn 3

Tác giả & chồng

“Bởi vì tôi yêu anh. Lẽ nào tôi thực sự đã đi đến tận đây trong quyển sách mà chưa nói cho rõ điều đó ư? Tôi yêu người đàn ông này. Tôi yêu anh vì vô số lý do thật buồn cười. Tôi yêu đôi bàn chân to bè vững chãi của anh. Tôi thích chuyện anh lúc nào cũng hát bài La vie en rose mỗi khi nấu bữa tối. (Khỏi phải nói, tôi thích vì anh hay nấu ăn.) Tôi thích chuyện mặc dù nói tiếng Anh gần như hoàn hảo thế nhưng thậm chí sau ngần ấy năm sử dụng ngôn ngữ đó, thỉnh thoảng chẳng hiểu làm sao anh vẫn sáng tạo ra những từ thật oái oăm. (“Smoothfully” là từ ưa thích nhất của tôi, tuy nhiên tôi cũng thích từ “lulu-bell,” cách dịch dễ thương hết sức của riêng Felipe cho từ “lullaby”.) Tôi thích chuyện anh chẳng bao giờ thông thuộc cách dùng từ chính xác trong một số thành ngữ tiếng Anh nhất định. (“Don’t count your eggs while they’re still up inside the chicken’s ass”[1], là một ví dụ cực đỉnh, tuy nhiên tôi vẫn khoái nhất câu, “Nobody sings till the fat lady sings”[2].) Tôi yêu Felipe ở chỗ anh không bao giờ – trong suốt cuộc đời – có thể nhớ đúng tên của những người Mỹ nổi tiếng. (“George Cruise” và “Pitt Tom” là hai ví dụ điển hình.)

Tôi yêu anh và do đó tôi muốn bảo vệ anh – thậm chí khỏi tôi, nếu điều đó giúp làm sáng tỏ hơn vấn đề này. Tôi không muốn bỏ qua bước nào trong quá trình chuẩn bị kết hôn, hay để lại điều gì còn vướng mắc, những thứ có khả năng tái xuất hiện về sau để hủy hoại chúng tôi – để làm hại anh. Dù đã trò chuyện, nghiên cứu và tranh luận về vấn đề pháp lý như thế, tôi vẫn lo có thể mình đã bỏ sót một số điều quan trọng liên quan tới hôn nhân. Thế rồi bằng cách nào đó, tô­i tìm thấy một báo cáo mới xuất bản gần đây của trường Đại học Rutgers có nhan đề là, “Một mình cùng nhau: Tình hình hôn nhân ở Mỹ đang thay đổi như thế nào,” và say sưa nghiên cứu nó. Bộ sách đồ sộ này sắp xếp đầy đủ các kết quả của một cuộc khảo sát kéo dài trong hai mươi năm về hôn nhân tại Mỹ – chương trình nghiên cứu về hôn nhân có quy mô lớn nhất từ trước đến giờ – và tôi mải mê nghiền ngẫm nghiên cứu đó như thể nó là Kinh Dịch vậy. Tôi tìm kiếm sự khuây khỏa trong những số liệu thống kê, bứt rứt trước các sơ đồ “độ bền hôn nhân”, tìm kiếm bộ mặt của Felipe và tôi ẩn giấu trong các biểu đồ cột về tương quan tỷ lệ bất hòa.

Từ những gì tôi có thể hiểu về báo cáo của Rutgers (tôi chắc chắn rằng mình không hiểu hết mọi thứ), có vẻ như các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra những xu hướng trong “khuynh hướng ly hôn”, dựa vào một số các yếu tố nhân khẩu học nhất định. Một số cặp vợ chồng đơn giản là có nhiều khả năng thất bại hơn những cặp khác, ở một mức độ có thể phần nào dự đoán trước được. Một số yếu tố nghe có vẻ quen thuộc đối với tôi. Chúng ta đều biết rằng những người có bố mẹ đã ly hôn có nhiều khả năng một ngày nào đó cũng sẽ ly hôn – như thể ly hôn sinh ra ly hôn – và những ví dụ cho điều này có thể kéo dài qua nhiều thế hệ.

Nhưng có những ý kiến khác tôi hầu như chưa biết bao giờ, và thậm chí còn mang lại cảm giác yên lòng. Chẳng hạn như, trước đây tôi luôn nghe nói rằng theo thống kê thì những người đã từng ly hôn có nhiều khả năng lặp lại thất bại trong cuộc hôn nhân thứ hai, nhưng không – không hẳn vậy. Thật mừng là, khảo sát Rutgers cho thấy có nhiều cuộc tái hôn lần thứ hai kéo dài đến suốt đời. (Giống như tình yêu của chim mòng biển, một số người đưa ra sự lựa chọn sai lầm trong lần đầu tiên, nhưng làm tốt hơn nhiều trong lần lựa chọn người bạn đời thứ hai.) Vấn đề phát sinh khi con người đem theo những hành vi phá hoại còn tồn đọng từ cuộc hôn nhân thứ nhất sang cuộc hôn nhân tiếp theo – như nghiện rượu, ghiền cờ bạc, bệnh tâm thần, bạo lực hoặc lăng nhăng. Trong những trường hợp đó, việc bạn cưới ai sẽ không quan trọng, bởi vì bạn không thể tránh khỏi kết cục cuối cùng là phá hủy mối quan hệ này, do bệnh tình của chính bạn.

Thế nên tồn tại một vấn đề cần bàn đến là tỷ lệ ly hôn cao tới 50% thật đáng xấu hổ ở Mỹ. Chúng ta ai cũng biết con số thống kê kinh điển đó phải không? Tỷ lệ luôn luôn dao động trong mức đó và than ôi, điều đó nghe thật khắc nghiệt. Như nhà nhân học Lionel Tiger đã viết rất hay về đề tài này: “Thật là ngạc nhiên khi mà, trong những trường hợp như vậy, hôn nhân vẫn còn được pháp luật cho phép. Nếu gần một nửa của cái gì đó khác kết thúc trong bất hạnh như vậy, thì chính phủ chắc chắn sẽ cấm nó ngay lập tức. Nếu một nửa số lượng bánh thịt Mehico được phục vụ trong các nhà hàng gây ra bệnh lỵ, nếu một nửa số người học karate bị gãy bàn tay, nếu chỉ cần 6% những người chơi trò tàu lượn siêu tốc bị tổn thương tai giữa, thì công chúng sẽ phản đối ầm ĩ đòi chính phủ có hành động ngăn chặn. Ấy thế nhưng người bạn thân nhất của tai họa… cứ xuất hiện hết lần này đến lần khác.”

Nhưng con số 50% đó phức tạp hơn nhiều so với vẻ bề ngoài, khi mà ta chia nó ra theo một số yếu tố nhân khẩu học nhất định. Tuổi kết hôn của cặp vợ chồng có vẻ là yếu tố quan trọng nhất. Tuổi kết hôn càng thấp thì khả năng ly hôn càng cao. Sự thực là với những người kết hôn sớm thì khả năng ly hôn cao đến mức đáng kinh ngạc. Ví dụ, nều kết hôn ở độ tuổi thiếu niên hoặc đầu những năm hai mươi tuổi thì khả năng ly hôn sẽ cao gấp hai đến ba lần so với trường hợp đợi cho đến khi ba mươi hoặc bốn mươi tuổi.

Những lý do cho việc này rõ ràng hiển nhiên đến nỗi tôi ngần ngại khi liệt kê ra đây vì sợ sẽ xúc phạm đến độc giả, nhưng chúng là như thế này: Khi còn quá trẻ, chúng ta hay thiếu trách nhiệm, thiếu ý thức, bất cẩn và kém ổn định về kinh tế hơn so với khi đã trưởng thành. Vì vậy, chúng ta không nên kết hôn khi còn quá trẻ. Đây là lý do tại sao những cặp vợ chồng mới cưới mười tám tuổi có tỷ lệ ly hôn không phải là 50%; họ có tỷ lệ ly hôn xấp xỉ 75%, hoàn toàn áp đảo tỷ lệ ly hôn ở mọi đối tượng khác. Độ tuổi 25 dường như là một điểm ngừng kỳ diệu. Các cặp kết hôn trước độ tuổi này có tỉ lệ ly hôn cao hơn rất nhiều so với các cặp đợi đến khi 26 tuổi trở lên. Hãy trì hoãn chuyện kết hôn tới tuổi năm mươi, chừng đó tỷ lệ các cuộc hôn nhân kết thúc tại tòa trở nên gần như biến mất trên bảng thống kê. Tôi thấy điều này có tính khích lệ đến không ngờ, bởi lẽ nếu tính trung bình thì tuổi của Felipe và tôi là vào khoảng 46 tuổi. Theo bảng thống kê dự báo về độ tuổi kết hôn phù hợp thì chúng tôi hoàn toàn đạt yêu cầu.”

[1] Đúng ra phải là: Don’t count your eggs while they’re still in the chicken’s ass.

[2] Đúng ra phải là: It’s not over till the fat lady sings.

Comments

comments

Leave a Reply

Top